Trường đào tạo nghề chất lượng cao theo mô hình khép kín- bước chuyển cho công tác phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Nam
Tiếng Việt (Vietnamese)English (United Kingdom)

Trường đào tạo nghề chất lượng cao theo mô hình khép kín- bước chuyển cho công tác phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Nam (22/11/2019)

Phát triển nguồn nhân lực luôn là một trong những công cụ hữu hiệu thực hiện chiến lược của mọi tổ chức. Phát huy được nhân tố con người, tận dụng tối đa khả năng và sức cống hiến của nguồn nhân lực chính là chìa khoá để một doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu, chiến lược và sứ mệnh đề ra.

 

Trên con đường hội nhập và phát triển, cạnh tranh cấp quốc gia cũng như các địa phương sẽ phụ thuộc nhiều về nguồn nhân lực chất lượng cao, điều này càng đặt biệt hơn đối với tỉnh Quảng Nam - nơi có Khu kinh tế mở đầu tiên của Việt Nam và nhiều khu công nghiệp khác đang rộng mở để thu hút các nhà đầu tư.

TCLC

Đào tạo nghề chất lượng cao là gì ?


Chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều, với những chủ thể ở các cương vị khác nhau, thời điểm khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó. Đánh giá chất lượng của một sản phẩm cần thiết phải dựa trên các chuẩn nhất định. Trong lĩnh vực giáo dục, một lẽ tự nhiên ở nước ta cũng như trên thế giới là các cơ sở giáo dục khác nhau, với các điều kiện đảm bảo chất lượng khác nhau thì có chất lượng khác nhau. Trong đó có những trường được đánh giá là đạt chất lượng (đạt chuẩn), trường chất lượng cao (High quality - trên chuẩn), thậm chí có những trường có thể xếp vào loại có chất lượng đặc biệt cao (Excellent hay Elite), ví dụ như trường University of California Berkeley ở Mỹ, hay trường Đại học quốc gia Moskva mang tên Lomonosov ở Nga.


Một số chuyên gia về giáo dục cho rằng, trường chất lượng cao là trường hơn trường bình thường về một số mặt (đặc biệt là các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo và hiệu quả đào tạo), hay nói cách khác chất lượng cao được hiểu là trên chuẩn quy định về chất lượng; ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng trường chất lượng cao là được xếp hạng cao trong danh sách các trường được tổ chức uy tín đánh giá; hay trường chất lượng cao là trường thực hiện một số nhiệm vụ khác với trường bình thường, đảm đương các công việc chủ chốt như đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp, phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, xuất khẩu lao động có trình độ kỹ năng cao, đáp ứng nhu cầu hội nhập... Kế thừa những quan điểm trên, có thể hiểu nôm na khái niệm trường nghề chất lượng cao là trường trên chuẩn quy định về các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, là trường được đầu tư bài bản và có hệ thống với điều kiện học tập về trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, giáo viên, chương trình, hệ thống kiểm soát chất lượng tối ưu nhất nhằm tạo ra những "sản phẩm" là những lao động có tay nghề cao, có kỹ năng làm việc và luôn tiếp cận công nghệ hiện đại khi có sự thay đổi và được quốc tế công nhận. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và dịch chuyển lao động trên thị trường quốc tế thì trường nghề chất lượng cao còn phải đáp ứng yêu cầu được công nhận văn bằng, chứng chỉ bởi các tổ chức giáo dục đào tạo có uy tín của khu vực hoặc quốc tế hay nói cách khác được các nước trong khu vực và thế giới công nhận về bằng cấp trong bối cảnh nhất thể hóa thị trường lao động.

 

Tiêu chí của trường nghề chất lượng cao:


Tại Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020 thì có 6 tiêu chí của trường nghề chất lượng cao:


     + Về quy mô đào tạo: Quy mô đào tạo tối thiểu là 2.000 học sinh, sinh viên hệ trung cấp nghề, cao đẳng nghề (tính theo số học sinh, sinh viên quy đổi), trong đó có ít nhất 30% học sinh, sinh viên học các nghề trọng điểm.


      + Về việc làm sau đào tạo: Có ít nhất 80% số học sinh, sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng nghề được đào tạo trong vòng 6 tháng kể từ khi tốt nghiệp, trong đó các nghề trọng điểm đạt ít nhất là 90%.


      + Về trình độ học sinh, sinh viên sau đào tạo: 100% học sinh, sinh viên tốt nghiệp hệ trung cấp nghề đạt bậc 2/5, hệ cao đẳng nghề đạt bậc 3/5 của tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và có trình độ tin học đạt tiêu chuẩn IC3 hoặc tương đương trở lên, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 300 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên. Trong đó, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các nghề trọng điểm theo chương trình đào tạo được chuyển giao từ nước ngoài có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 450 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên và được các tổ chức giáo dục, đào tạo có uy tín của khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận văn bằng, chứng chỉ.


      + Về kiểm định chất lượng: Trường đạt cấp độ 3 tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề; 100% nghề đào tạo đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo.


      + Về giáo viên, giảng viên: 100% giáo viên đạt chuẩn quy định, có trình độ tin học IC3 hoặc tương đương trở lên, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 350 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên. Trong đó, giáo viên dạy các nghề trọng điểm được chuyển giao có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 450 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên.


      + Về quản trị nhà trường: 100% cán bộ quản lý của trường được cấp chứng chỉ đào tạo về nghiệp vụ quản lý dạy nghề. Các hoạt động quản lý của trường và chương trình đào tạo các nghề trọng điểm được số hóa và mô phỏng hóa theo các công nghệ phần mềm tiên tiến trên thế giới.


Một số mô hình đào tạo trên thế giới:


    - Mô hình đào tạo của Singapore và Ấn Độ: Luôn luôn gắn phát triển nguồn nhân lực với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, thiết lập mối quan hệ giữa phát triển chiến lược kinh tế và chiến lược nhân lực.


    - Mô hình đào tạo nguồn chất lượng cao của Đức: Các cơ sở đào tạo nghề chỉ đào tạo khi người được đào tạo phải có giấy giới thiệu của các doanh nghiệp và môi trường doanh nghiệp là nơi để cho sinh viên thực tập, sau khi đào tạo xong người lao động sẽ có việc làm ngay và tránh được tình trạng lãng phí nguồn lực của xã hội.


    - Mô hình kết hợp đào tạo điển hình ở In-đô-nê-xia. Phương thức này có tên gọi tiếng Anh là "Link and Match System" (L & M). Trong khuôn khổ luận án này, tạm dịch là "Hệ thống kết hợp In-đô-nê-xia".


       Một số nét đáng quan tâm của L & M là: tiến hành đào tạo đồng thời tổ chức bởi trường dạy nghề và doanh nghiệp sản xuất công nghiệp; mục tiêu là đào tạo ra đội ngũ lao động chất lượng cao theo yêu cầu của sản xuất công nghiệp, nâng cao hiệu quả của đào tạo nghề, coi kinh nghiệm việc làm như là một cấu phần của quá trình đào tạo; các thành tố của hệ kết hợp gồm trang thiết bị, phát triển chương trình, giáo viên giảng dạy; về địa điểm học tập, dạy - học lý các môn lý thuyết tại trường, thực hành tại trường hoặc tại công ty, dạy học thực tập sản xuất tại công ty; hội đồng đánh giá gồm trường và đại diện công ty.


      - Mô hình đào tạo điển hình ở Thái Lan: Phương thức này có tên gọi bằng tiếng Anh: "Co-operative Training System". Tiếng Việt Nam: Hệ thống hợp tác đào tạo nghề (HTHTĐTN). Phương thức này có nguồn gốc ra đời trong bối cảnh sau.


       Một trong những mục tiêu chiến lược của kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997- 2001) và lần thứ 9 (2002 - 2006) của Thái Lan tập trung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động. Thực tế đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế nguồn lao động kỹ thuật. Để có nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các doanh nghiệp sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo tại xưởng sản xuất của mình. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế trước mắt trong thời gian qua (đến năm 1998). Đến năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng HTHTĐTN để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo và sử dụng nói trên và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai. Phương thức kết hợp này có một số điểm đặc trưng sau.


        Quá trình đào tạo có 2 địa điểm cơ bản là cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sản xuất.


       Mục đích tôn chỉ của doanh nghiệp sản xuất là đáp ứng và nâng cao chất lượng nhân lực kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Mục đích của cơ quan quản lý Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo là phát triển bền vững và trang bị tốt cho người Thái trong nền kinh tế năng động, phát triển xã hội có chất lượng.


Tuyển sinh vào học theo hai hướng:


* Thứ nhất, người học vào đăng ký trực tiếp tại cơ sở đào tạo. Văn phòng hướng nghiệp sẽ phỏng vấn và tìm doanh nghiệp sản xuất bảo trợ. Khi có doanh nghiệp bảo trợ, người học có thể bắt đầu khóa học.


* Thứ hai, Doanh nghiệp tuyển người và gửi đến cơ sở đào tạo để học.


Hợp đồng đào tạo được ký theo kiểu "hợp đồng ba bên" gồm: người học nghề, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.


+ Tài chính cho đào tạo: Theo Luật Phát triển kỹ năng của Thái Lan ban hành năm 2003, doanh nghiệp phải đóng góp một khoản chi phí cho Quỹ của Cục phát triển kỹ năng, gọi tắt là DSD (Department of Skill Development) là 1% tổng quỹ lương.


+ Cơ sở vật chất sư phạm của trường và doanh nghiệp. Trong đó, đào tạo tại trường do cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm, tại doanh nghiệp do doanh nghiệp chịu.


+ Hội đồng Tư vấn có chức năng phát triển các chính sách và mục tiêu chất lượng, chỉ đạo cơ chế hợp tác của HTHTĐTN.


+ Hội đồng Kỹ thuật có trách nhiệm về tổ chức thi giữa năm và tốt nghiệp, phát triển chương trình và tư vấn các khóa đào tạo nâng cao.


+ Kiểm tra - đánh giá gồm: thi giữa kỳ vào cuối năm thứ nhất, cuối năm thứ hai thi tốt nghiệp. Kỳ thi tốt nghiệp yêu cầu kỹ năng tương đương bậc 2 quốc gia, được ngành công nghiệp Thái Lan thừa nhận và có thể đi làm việc ở nước ngoài.


+ Nội dung đào tạo được xây dựng theo quan điểm đào tạo theo diện rộng, theo mô-đun, dễ dàng cho đào tạo tại nhà máy. Thời gian đào tạo là 02 năm.


Sau một thời gian nghiên cứu áp dụng, hệ thống này tỏ ra có ưu điểm và giải quyết được mục tiêu đặt ra. Nghiên cứu và áp dụng những ưu điểm của hệ thống này vào đào tạo nghề ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là điều đáng quan tâm.


Đào tạo nghề ở Quảng Nam:


Với quy mô dân số gần 1,5 triệu người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động hơn 918 nghìn người, chiếm 63% tổng dân số. Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế năm 2013 gần 844 nghìn người, chiếm hơn 93% dân số trong độ tuổi lao động. Mặc dù tỷ lệ lao động trong độ tuổi có việc làm của tỉnh khá cao 91,9% (844/918) nhưng mới có 38% lao động đã qua đào tạo nghề ở các trình độ khác nhau, số còn lại là lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Phần lớn lao động tập trung ở khu vực nông - lâm - ngư nghiệp với tỷ trọng 61,56%, số còn lại làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhưng thu nhập của lao động qua đào tạo nghề rất bấp bên và không ổn định. Hiện tại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có hơn 49 cơ sở đào tạo nghề kể cả đào tạo nghề cấp cao đẳng (kinh tế, kỹ thuật), các mô hình đào tạo hiện hữu gần như tương đồng. Nhà nước, nhà trường hằng năm thông báo tuyển dụng, đào tạo rồi học viên ra trường và tự kiếm việc làm, có một số ít nhà trường liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo; chưa xây dựng được công tác dự báo nhu cầu đầu vào, đầu ra và thiết lập mối liên hệ đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, điều này dẫn đến mất cân bằng giữa cung và cầu lao động, bởi một thực tế hiện nay là mỗi dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh... cần một số lượng lao động nhất định với một cơ cấu về trình độ, kỹ năng và nghiệp vụ khác nhau nhưng các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh chưa thay đổi được quan niệm từ đào tạo các ngành nghề dựa vào thế mạnh (cán bộ, giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật...) của mình sang đào tạo dựa trên các nhu cầu thực tế và những dự báo nhu cầu cơ cấu lao động trong tương lai. Đang tồn tại hiện tượng là một số ngành nghề đào tạo ra với số lượng quá lớn nhưng cơ hội tìm việc làm không cao, trái lại một số ngành có nhu cầu lớn như công nhân kỹ thuật, công nhân điện, cơ khí, công nhân ngành dệt... thì khả năng đào tạo rất hạn chế. Bên cạnh đó các cơ sở đào tạo vẫn chưa thay đổi phương thức và hình thức đào tạo đó là quá nặng về lý thuyết, kiến thức hàn lâm trong khi đó lại yếu về kỹ năng thực hành, kỹ năng nghiệp vụ, kiến thức thực tế, điều này dẫn đến hiện tượng người học sau khi đào tạo ra trường nhưng chưa thể làm tốt được công việc (dù đúng chuyên ngành đào tạo) mà phải cần có một thời gian dài để làm quen với công việc hoặc doanh nghiệp phải đào tạo lại. Ngoài ra cho thấy nhiều trường, mã ngành đào tạo đòi hỏi kỹ năng thực hành, kỹ năng nghiệp vụ, kiến thức thực tế rất cao nhưng lại không có các cơ sở thực hành, rèn luyện nghiệp vụ tại trường đúng tiêu chuẩn và cũng chưa có sự liên kết chặt chẽ với các cơ sở sản xuất kinh doanh để tạo điều kiện cho sinh viên thực tập, nghiên cứu thực tế.


Có thể nói mặc dù có sự quan tâm, đề ra nhiều chủ trương chính sách của các cấp, các ngành nhưng chất lượng đào tạo nghề của tỉnh Quảng Nam vẫn còn thấp. Tình trạng lao động được đào tạo ra chưa có việc làm vẫn còn nhiều và mất cân đối ngành nghề, trong khi đó doanh nghiệp thì vẫn than phiền vì thiếu lao động..., Đặc biệt tại khu kinh tế mở Chu Lai và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, rất nhiều doanh nghiệp sau khi tiếp nhận lao động đã qua đào tạo của tỉnh về phải đào tạo lại hoặc đưa lao động từ địa phương khác đến. Chính điều này gây nên sự lãng phí rất nhiều thời gian và tiền của của nhà đầu tư, nhà nước và gia đình có con em đi học.


Yêu cầu đào tạo nghề trong tình hình mới


Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, quá trình quốc tế hoá sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực được coi là yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đồng thời cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao cũng diễn ra mạnh mẽ hơn trên bình diện thế giới, khu vực và quốc gia. Việc mở ra khả năng di chuyển lao động giữa các nước đòi hỏi ngư¬ời lao động phải có kỹ năng nghề cao, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế với những tiêu chuẩn, tiêu chí do thị trường lao động xác định. Đào tạo theo hướng cầu đã trở thành cách tiếp cận đào tạo có hiệu quả đang và sẽ được thực hiện ở tất cả các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới.


Xuất phát từ những khó khăn, bất cập nêu trên, đối với Quảng Nam nghiên cứu Xây dựng trường đào tạo nghề chất lượng cao theo mô hình khép kín là vấn đề cần phải tính đến ngay từ bây giờ.


Đề xuất mô hình đào tạo nghề


Để giải quyết yêu cầu của phát triển nguồn nhân lực trong tình hình mới, nhất là trong xu thế hội nhập và quốc tế hóa hiện nay, bài toán đào đạo nghề cho tỉnh Quảng Nam cần nghiên cứu, xem xét trên khía cạnh: mô hình đào tạo nào cho phù hợp với yêu cầu địa – kinh tế của tỉnh, đào tạo ở chuẩn nào, thời gian đào tạo bao lâu...


Qua nghiên cứu các mô hình đào tạo nghề ở các nước và yêu cầu của công tác đào tạo nghề hiện nay, có thể nhận định rằng mô hình khá phổ quát và hiệu quả chính là sự kết hợp 03 chiều, chặc chẽ và gắng kết trách nhiệm giữa Nhà trường, Nhà doanh nghiệp và Người lao động hay còn gọi là mô hình đào tạo 3N


Tầm nhìn của mô hình này là đào tạo theo địa chỉ và đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp là nơi thực hành của học viên. Giáo viên giảng dạy là các thợ bậc cao tại các doanh nghiệp và tuyển dụng từ các trường có uy tín. Bộ máy nhà trường và khung chương trình đào tạo có sự tham gia của Nhà nước, các doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh và khung đào tạo chung của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.


Bài toán giải quyết của mô hình 3N:


- Đối với doanh nghiệp:


+ Tiếp cận đến mức gần gũi nhất nguồn cung lao động có chất lượng cao, nhờ đó chủ động trong quá trình tổ chức sản xuất và kinh doanh;
+ Tiết kiệm được chi phí đào tạo nhưng vẫn có được đội ngũ lao động đúng với yêu cầu;


- Đối với nhà nước:


+ Xét về vĩ mô, sẽ tạo được môi trường đầu tư hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư và gia tăng tính chuyên nghiệp trong công tác đào tạo nghề, gia nhập và nhất thể hóa thị trường lao động trong khu vực và thế giới;
+ Xét về vi mô, tạo ra được tay nghề cho người lao động, bước đầu để giải quyết công ăn việc làm; tạo ra nguồn thu cho ngân sách địa phương.
+ Tận dụng được trang thiết bị máy móc của doanh nghiệp, đội ngũ chuyên gia, các thợ bậc cao của doanh nghiệp...
+ Xã hội hóa đầu tư nguồn lực


- Đối với người lao động:


+ Lựa chọn được môi trường tốt để học nghề;
+ Có điều kiện tiếp cận sớm với môi trường làm việc trong tương lai.

 

Đào tạo nghề chất lượng cao là một xu thế chung của các quốc gia trên con đường hội nhập và toàn cầu hóa, cách mạng khoa học kỹ thuật đang mở ra những kỹ nguyên mới đòi hỏi nguồn nhân lực phải phát triển song trùng. Đối với tỉnh Quảng Nam, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng.


Với sự phát triển không ngừng của hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo dựng một môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn, Quảng Nam chắc chắn sẽ là điểm đến của Khu vực miền Trung và cả nước. Trên cơ sở tiềm năng phát triển đó, nhu cầu về lực lượng lao động có tay nghề cao là điều tất yếu. Vì vậy, sự ra đời của trường đào tạo nghề chất lượng cao là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay.

Bài viết: ThS.Nguyễn Văn Diệu

 

Thư viện video

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.
Title: phim Tổng kết Hoi thi 6


Dành cho quảng cáo

HSCV sua  1

 

lichcongtactuan

logo-festivaldi san Qnam 

Untitled-1

 

Capture

SQLTriThuc

bannerSam 03

Đăng nhập

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH QUẢNG NAM
Địa chỉ: Số 06 Trần Hưng Đạo, Thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam
ĐT:02353.810273; Email: lhkhktqnam@gmail.com
Người chịu trách nhiệm chính: Huỳnh Đức Dũng – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Giấy phép số 01/GP-STTTT ngày 28/02/2014

Văn phòng

ĐT: 0235.3 810 273

Email:lhkhktqnam@gmail.com

Ban thông tin - PBKT và Hội thành viên

ĐT: 0235.3704139

Email: banthongtin2013@gmail.com

Ban KHCN, Tư vấn phản biện

ĐT: 0903.583928

Email: hoakhcn@gmail.com